Sự phân bố thần kinh của cột sống thắt lưng

Đĩa đệm của người không có các sợi thần kinh. Cho đến nay, người ta mới chỉ phát hiện thấy những tận cùng thần kinh cảm giác nằm ở những lớp ngoài cùng của vòng sợi ở mặt sau dây chằng dọc.

Smith và Wright (1958) đã xác định bằng thực nghiệm là những đau đớn đặc trưng chỉ xuất hiện do co kéo ở phần sau của vòng sợi và ở các rễ thần kinh.

Ở đĩa đệm còn nguyên lành, sau khi tiêm thuốc cản quang hay chất màu vào đĩa đệm, bệnh nhân cũng không hề có cảm giác đau hay cảm giác của áp lực. Nếu đĩa đệm bị lồi mà tiếp xúc với một rễ thần kinh thì sẽ có thể dẫn đến đau kiểu cảng rễ do tăng thể tích đĩa đệm.

Những cấu trúc cảm giác đau ở ống sống mà chủ yếu là dây chằng dọc sau và phía sau của vòng sợi, cả cốt mạc và bao khớp đốt sống đều được phân bố bởi dây thần kinh sống đặc biệt.

Người ta đã xác nhận sự phát hiện của V.Luschka (1850) về một nhánh ngọn của dây thần kinh tuỷ sống đi từ hạch sống, được gọi là nhánh màng tuỷ (R. meningeus), sau khi đã tiếp nhận những sợi giao cảm của chuỗi hạch giao cảm cạnh sống, trở lại chui qua lỗ liên đốt để vào trong ống sống. Nó còn được gọi là dây thần kinh quặt ngược (N.recurrens) hay dây xoang sống (N. sinuvertebralis).

Cấu tạo đĩa đệm

Nhánh màng tuỷ phân nhánh sau khi quặt lại vào trong ống sống và phân bố cho các phần trong của bao khớp đốt sống, cốt mạc đốt sống, dây chằng dọc sau cũng như bao tủy (gaine) bằng những sợi ly tâm, hướng tâm và giao cảm.

Những thành phần có phân bố thần kinh cảm giác chịu kích thích cơ học thấy trước hết ở dây chằng dọc sau, bao khớp đốt sống và trong cả bản thân dây thần kinh tuỷ sống.

Dây thần kinh tủy sống được cấu tạo bởi các thành phần vận động, cảm giác và giao cảm thành một dây thần kinh hỗn hợp. Sau khi ra khỏi lỗ liên đốt, lại chia thành hai nhánh: nhánh trước (nhánh bụng) và nhánh sau (nhánh lưng).

Nhánh trước: to hơn nhánh sau, phân bố cho vùng trước của cơ thể, cả các chi.

Nhánh sau: phân bố cho da và cơ ở vùng lưng. Nó còn tách ra những nhánh tận cùng cho bao khớp và diện khớp ngoài của khớp đốt sống.

Những nhánh sau chui ra từng đôi một từ xương chuẩn tới xương cụt, bên cạnh cột sống, qua các cân để phân bố cho những khu vực da tương ứng:

Ở vùng ngực (Thl – Th2) tương đối gần đường giữa.

Ở vùng lưng, thắt lưng (Ll – L5) bên cạnh khối cơ duỗi lưng.

Ở vùng cùng (S1-S4) cạnh đường giữa bên trên những lỗ sau (dorsal foramina). Richter (1977) đã nêu lên những bệnh lý đau dây thần kinh do kẹt nghẽn (neuropathie d’étranglement) của những nhánh này, thuồng thấy đau dây thần kinh chẩm và đau vùng xương cụt (coccygodynie).

Một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong sự xuất hiện đau theo kiểu “góc thời tiết” ờ đoạn vận động cột sống là vùng quanh lỗ liên đốt. Đặc biệt là ở đoạn dưới của cột sống cổ và ở cột sống thắt lưng, nơi mà lỗ liên đốt lại được giới hạn không những bởi khớp đốt sống mà còn cả khoang gian đốt sống, ở đây có thể dẫn những kích thích cơ học lên các sợi cảm giác của nhánh màng tuỷ trong bao khớp đốt sống, trong dây chằng dọc sau và ngay cả trong bản thân dây thần kinh tuỷ sống.

Sự di chuyển của tổ chức đĩa đệm gây nên đau đớn là do nó đè ép lên dây chàng dọc sau hoặc lên rễ thần kinh tuỷ sống. Chỉ những yếu tố này mới được coi là đau do đĩa đệm tiên phát. Còn đau do đĩa đệm thứ phát là loại đau xuất phát từ khớp đốt sống hoặc các cơ thân.

Add Comment